Bệnh viện đồ da - Điểm tựa cho người yếu thế

Bệnh viện đồ da hướng đến là nơi hỗ trợ và đào tạo việc làm cho người yếu thế ( trẻ lang thang, lao động đường phố, đánh giày, nạn nhân buôn người, trẻ mồ côi…).

Ra đời vào năm 2018, Bệnh viện đồ da đã vừa giải quyết vấn đề việc làm, vừa tạo cơ hội phát triển tay nghề, kỹ năng cứng, kỹ năng mềm và mang đến một công việc ổn định, lâu dài và mở rộng mạng lưới hỗ trợ người yếu thế trên toàn quốc. Kết hợp cùng các trung tâm bảo trợ tiếp nhận người yếu thế, Bệnh viện đồ da đào tạo nghề, kiến thức về vận hành, chăm sóc khách hàng và kết hợp đào tạo kỹ năng mềm như giao tiếp, thuyết trình, đàm phán,... Từ 2018 đến nay, Bệnh viện đồ da đã đào tạo và đồng hành cùng 30 người yếu thế làm việc trong môi trường an toàn, ổn định với mức lương 9 - 15tr/ mỗi tháng.

Thành lập năm 2018 tại Hà Nội, Bệnh viện đồ da đã tiếp nhận, đào tạo và tạo việc làm cho nhiều người yếu thế, bao gồm: Trẻ lang thang, nạn nhân buôn người… để rồi từ đây, nhiều cuộc sống mới đã được "tái sinh".

Anh Phúc - founder của Bệnh viện đồ da, đã có một tuổi thơ trải qua nhiều biến cố: Bố mất sớm, gánh nặng kinh tế đặt lên vai mẹ. Chính vì vậy, ngay từ năm 11 tuổi, anh đã phải vật lộn với nghề đánh giày trên đường phố để kiếm tiền.

Xuất thân là một lao động đường phố, anh Phúc hiểu rõ những khó khăn, nỗi khổ tâm và hoàn cảnh của nhóm đối tượng này: sức khoẻ, thiếu sự bảo vệ, vấn nạn bạo hành, xâm hại,... Và từ đó, anh cũng đã nung nấu ý định một mục tiêu lớn để xây dựng một doanh nghiệp, thực hiện được trách nhiệm xã hội doanh nghiệp đối với nhóm đối tượng này.

Năm 2018, anh Phúc nhận thấy được tiềm năng của thị trường đồ da tại Việt Nam. Cùng với người cộng sự của mình, anh Phúc đã bắt đầu khởi nghiệp với mô hình Bệnh viện đồ da, mong muốn tạo một "mái nhà" để anh em đánh giày không còn phải lang thang ở ngoài đường nữa. Quyết tâm là thứ duy nhất khiến anh Phúc kiên trì đến cùng, từ một phòng kho 6m2, một xưởng đồ da dành cho những người yếu thế đã hình thành và phát triển tới ngày hôm nay.

Hiện nay, Bệnh viện đồ da chủ yếu vệ sinh, chăm sóc và phục chế những bộ sofa. Trung bình mỗi tháng, xưởng nhận sửa khoảng 20 đến 30 bộ với mức giá hàng trăm triệu đồng. Xưởng có 8 anh em thường trực, thu nhập bình quân của mỗi người từ 7 – 10 triệu đồng mỗi tháng, tùy vào khối lượng công việc của từng người. Chỉ từ căn phòng ngủ "khởi nghiệp" bé tẹo ngày nào, Bệnh viện Đồ Da hiện nay đã có xưởng phục chế, văn phòng làm việc và chỗ ở cho đội ngũ nhân sự.

Trong năm 2024, Nguyễn Văn Phúc đã lên kế hoạch đưa Bệnh viện đồ da Nam tiến, để có thể tạo nhiều cơ hội việc làm hơn cho những đối tượng yếu thế tại Thành phố Hồ Chí Minh và những tỉnh miền Tây. Dù đứng trước những cơ hội để mở rộng doanh nghiệp và đạt được nhiều mục tiêu trong kinh doanh, Bệnh viện đồ da sẽ không xa rời tôn chỉ hỗ trợ người yếu thế, vẫn luôn đặt hai nhiệm vụ song hành là: Phát triển doanh nghiệp và thực hiện trách nhiệm xã hội.

Bệnh viện đồ da được vận hành với mục tiêu xây dựng hệ sinh thái khép kín, tạo ra một quy trình chặt chẽ để thực hiện hai mục tiêu song hành là phát triển kinh doanh và hỗ trợ người yếu thế.

Đối với việc đào tạo và hỗ trợ người yếu thế, Bệnh viện đồ da xây dựng quy trình lý tưởng sau:

1. Đào tạo miễn phí

2. Tạo cơ hội việc làm

3. Tự chủ kinh doanh bằng franchise/mô hình đại lý

4. Hỗ trợ cung cấp thiết bị nguyên liệu, công cụ, sản phẩm; đào tạo bổ sung; cập nhật công nghệ;... như chính sách hỗ trợ phía sau

5. Nhân rộng quy mô hỗ trợ người yếu thế F1; F2; F3

Tầm nhìn

Mỗi tỉnh thành sẽ có ít nhất một cơ sở Bệnh viện đồ da với hàng trăm người yếu thế có công ăn việc làm. 

Mục tiêu

Hỗ trợ mỗi năm cho từ 80-100 người yếu thế, giúp họ có công ăn việc làm ổn định trên khắp Việt Nam.

Quá trình triển khai - Phạm vi - Chi phí 

 

  • Năm 2010: Sáng kiến toàn cầu Nescafé Plan được tập đoàn Nestlé triển khai
  • Năm 2011: NESCAFÉ Plan chính thức được triển khai tại Việt Nam thí điểm tại tỉnh 3 tỉnh Đắk Lắk, Lâm Đồng và Đắk Nông.
  • Năm 2012: NESCAFÉ Plan triển khai thêm tại tỉnh Gia Lai, mở rộng các khu vực trồng cà phê trọng điểm tại Tây Nguyên, gồm tỉnh Đắk Lắk, Đắk Nông, Gia Lai và Lâm Đồng.
  • Năm 2015: Ứng dụng phần mềm FARMS và FFB (Nhật ký Nông hộ số) để quản lý dữ liệu trực tiếp của mỗi trang trại, nhằm hỗ trợ kịp thời cho từng nông hộ.
  • Năm 2019: Được Bộ NN&PTNT trao bằng khen với thành tích xuất sắc đóng góp cho ngành cà phê Việt Nam và phát triển nông nghiệp bền vững theo mô hình hợp tác công tư (PPP), góp phần phát triển nông nghiệp nông thôn.
  • 2021-2024: Đã và đang hợp tác với Tổ chức Lao động Quốc tế ILO triển khai tập huấn và nhân rộng các thực hành tốt trong An toàn vệ sinh lao động (OSH) và Bộ luật Lao động (Labor Law).
  • Giai đoạn 2011-2024: Đã và đang triển khai mô hình trồng xen canh hợp lý, giúp bà con nông dân tăng thu nhập từ 30% - 100% trên cùng đơn vị diện tích.

 

Kể từ khi được triển khai tại Việt Nam, Nescafé Plan đã xây dựng đội ngũ cán bộ hỗ trợ nông nghiệp cho chương trình (hiện có 8 thành viên) nhằm quản lý và giám sát các hoạt động trên thực địa với nông dân. Bên cạnh đội ngũ cán bộ nông nghiệp, chương trình phát triển và đào tạo đội ngũ gồm 274 trưởng nhóm nông dân, là những cánh tay nối dài để giúp Chương trình lan tỏa, kết nối và chia sẻ kiến thức. Mỗi nhóm nông dân sẽ giúp nhau nhân rộng các mô hình và tập quán canh tác tốt và bền vững, đồng thời tạo dựng cơ chế giám sát lẫn nhau để giảm thiểu những thực hành chưa tốt. 

Chương trình cũng rất chú trọng các hoạt động đào tạo và tập huấn cho nông dân trên diện rộng. Trong giai đoạn từ 2011-2023, Nescafé Plan đã giới thiệu mô hình canh tác theo Thực hành nông nghiệp tốt (GAP/NBFP), qua đó đã tổ chức hơn 355,000 lượt tập huấn cho nông dân và giúp họ áp dụng các kiến thức đã học ngay trên vườn của mình, giúp tiết kiệm 40% - 60% lượng nước tưới, và giảm 20% lượng phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật so với trước khi tham gia Chương trình. Bên cạnh đó, Chương trình Nescafé Plan đã đồng hành cùng Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) triển khai dự án giúp nâng cao kiến thức và thực hành trong bảo đảm an toàn lao động và sức khỏe nghề nghiệp và Bộ Luật Lao động, từ năm 2021 đến nay đã có 22,050 lượt nông dân tập huấn được triển khai, giúp nông dân bảo vệ tốt hơn sức khỏe của mình và gia đình trong quá trình canh tác. Dự kiến trong năm 2024, có 17,050 lượt tập huấn được triển khai. 

Tính đến nay, Chương trình đã giúp kết nối và hỗ trợ hơn 21,000 nông hộ tiếp cận và thực hiện canh tác theo bộ tiêu chí 4C, tạo ra vùng nguyên liệu bền vững với tổng diện tích hơn 34,000 ha cà phê 4C, cung cấp sản lượng trung bình trên 122,000 tấn cà phê chất lượng hằng năm. Canh tác bền vững và hiệu quả giúp nông dân tăng thu nhập bình quân từ 30% - 150%, góp phần cải thiện đáng kể chất lượng cuộc sống và sinh kế cho gia đình mình. 

Bên cạnh mục tiêu hỗ trợ nông dân trong quá trình chuyển đổi canh tác bền vững, hoạt động hợp tác nghiên cứu và đánh giá tác động cũng là những trọng tâm quan trọng của Chương trình Nescafé Plan, trong đó:

  • Hoạt động nghiên cứu và phát triển giống cùng Viện Khoa học, Nông-lâm nghiệp Tây nguyên (WASI) giúp phát triển và phân phát các cây giống cà phê chất lượng cao và thích ứng với biến đổi khí hậu được triển khai từ những ngày đầu thực hiện. Chương trình đã hỗ trợ phân phối hơn 74 triệu cây giống trong giai đoạn từ 2011 – 2023 và có hơn 12 triệu cây giống nữa cũng đã được phân phối đến cho người nông dân trong năm 2024. Thông qua đó, giúp tái canh hơn 86 ngàn ha cà phê già cỗi cho khu vực Tây Nguyên.
  • Hằng năm, hợp tác cùng tổ chức Rain Forest Alliance về Báo cáo đánh giá tác động (M&E) của Chương trình.

Giúp nâng cao chất lượng cuộc sống và cải thiện sinh kế cho nông dân trồng cà phê 

  • Giúp hơn 21.000 hộ nông dân tiếp cận và thực hành sản xuất cà phê theo bộ tiêu chí 4C, giúp các nông hộ tăng từ 30 đến 150% thu nhập nhờ áp dụng các mô hình xen canh hợp lý và tiết kiệm các chi phí trong canh tác cà phê nhờ tiết kiệm nước tưới, phân bón…; hỗ trợ cây giống cho trung bình 15.000 nông dân mỗi năm (2011 - 2023). 
  • Phân phối trên 74 triệu cây giống kháng bệnh, chất lượng tốt và cho năng suất cao, hỗ trợ tích cực trong hoạt động tái canh các diện tích cà phê già cỗi và cải tạo vườn cà phê (2011 – 2023). 
  • Triển khai tập huấn về canh tác cà phê bền vững và ứng phó với biến đổi khí hậu; nâng cao kiến thức và thực hành trong bảo đảm an toàn và sức khỏe nghề nghiệp trong canh tác cà phê cho hơn 355.000 nông dân. Trong đó hơn 35% lượt tham dự là nông dân nữ (2011 - 2023). 
  • Thành lập 274 nhóm nông dân, trong đó có 30% nữ trưởng nhóm nông dân, góp phần nâng cao vai trò, vị thế của nông dân nữ. 
  • Hỗ trợ nông dân trẻ khởi nghiệp và nâng cao kỹ năng mềm trong quản lý nông hộ, góp phần xây dựng lực lượng nông dân kế thừa cho ngành cà phê. Tính đến nay 34% nông dân tham gia Chương trình trong độ tuổi dưới 30. 
  • Hỗ trợ phát triển và xây dựng công cụ quản lý nhật ký nông hộ dựa trên công nghệ số (Digital Farmer Field Book - FFB) và Koltitrace App, giúp người nông dân quản lý kinh tế nông hộ hiệu quả hơn, thay thế việc quản lý bằng giấy tờ. 
  • Tăng cường hoạt động kết nối và chia sẻ thông tin và kiến thức cho cộng đồng nông dân thông qua mạng thông tin trực tuyến Agrinest, giúp việc chia sẻ thuận lợi và nhanh chóng, tiếp cận thông tin dễ dàng. 

Thúc đẩy các thực hành tốt hướng đến một nền nông nghiệp tái sinh, giúp tái tạo hệ sinh thái, đồng thời tăng cường khả năng chống chịu và thích ứng với biến đổi khí hậu cho các vườn cà phê, hướng đến xây dựng ngành cà phê bền vững, phát thải thấp 

  • Cải tạo hơn 74 ngàn ha diện tích cà phê già cỗi thông qua phân phối cây giống kháng bệnh và năng suất cao và chất lượng tốt (2011 - 2023). 
  • Tiết kiệm từ 40% đến 60% nước tưới tiêu nhờ áp dụng các phương pháp và kỹ thuật tưới tiêu tiết kiệm và hiệu quả. 
  • Giảm 20% lượng phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật, thay thế bằng việc sử dụng phân ủ vi sinh từ vỏ cà phê và chất thải từ gia cầm và gia súc 
  • Năng suất cao hơn 15% so với năng suất bình quân của quốc gia. 
  • 86% vườn cà phê trồng xen canh với trung bình từ 3 loại cây trồng khác nhau. 
  • Phương pháp xen canh hợp lý giúp cải thiện hiệu quả sử dụng đất để giúp bảo vệ chất lượng và độ phì nhiêu của đất, từ đó giúp tăng khả năng tỉ lệ hấp thu carbon vào đất, giảm phát thải ra môi trường và giúp bảo tồn đa dạng sinh học. 
  • Triển khai Dự án Nông-lâm kết hợp trồng xen canh 2.3 triệu cây xanh (gỗ, cây ăn trái cây) trong các nông trại cà phê nhằm giúp hấp thu và lưu trữ CO2 (ước tính khoảng 480.000 tấn CO2 trong giai đoạn 5 năm từ 2023 - 2027) và tăng cường đa dạng sinh học. 

Xây dựng mô hình tiêu biểu trong liên kết chuỗi, nâng cao giá trị hạt cà phê Việt Nam thông qua chế biến sâu và xuất khẩu

  • Thông qua việc thúc đẩy sản xuất cà phê chất lượng cao và bền vững, NESCAFÉ Plan góp phần hoàn thiện chuỗi liên kết giá trị trong sản xuất cà phê bền vững từ người nông dân đến người tiêu dùng, góp phần nâng cao giá trị hạt cà phê Việt Nam. 
  • Hàng năm, Nestlé thu mua 20 - 25 % sản lượng cà phê của Việt Nam với tổng giá trị trung bình từ 700 triệu đô la Mỹ, chủ yếu là chế biến sâu để tiêu dùng nội địa và xuất khẩu, với 100% cà phê đạt tiêu chí bộ quy tắc chứng nhận quốc tế 4C. Đây là động lực để thúc đẩy sản xuất có chứng nhận có truy xuất nguồn gốc của cà phê Việt Nam trong thời gian qua. 
  • Tất cả hạt cà phê xanh thu mua từ Việt Nam đều đến từ nguồn thu mua có trách nhiệm từ hạt cà phê Việt Nam chất lượng cao nhờ áp dụng kỹ thuật canh tác bền vững từ NESCAFÉ Plan. Đến nay, các sản phẩm cà phê của Nestlé đã xuất khẩu sang gần 30 nước và khu vực trên thế giới, bao gồm các thị trường khó tính như châu Âu, Mỹ, Úc, Nhật Bản, Hàn Quốc.

Mô hình của Nescafé Plan được đánh giá cao về tiềm năng nhân rộng khi đạt được những kết quả tích cực ở cùng lúc nhiều phương diện: hướng dẫn kỹ thuật, hướng dẫn quản trị, thu mua nông sản, tổ chức chế biến và phân phối chuỗi giá trị. Khởi động từ năm 2011, Nescafé Plan tại Việt Nam không ngừng mở rộng về quy mô theo thời gian với nhiều hợp phần được bổ sung, cải tiến. 

Nescafé Plan xác định đối tượng trung tâm là người nông dân, đây được xem là một trong những yếu tố then chốt giúp mở rộng quy mô chương trình. Việt Nam hiện có trên 18 triệu hộ nông dân và họ là nhân tố quyết định các hành động về ứng phó biến đổi khí hậu, phát triển bền vững trong lĩnh vực nông nghiệp. Là những người trực tiếp canh tác, chăm sóc cây trồng vật nuôi, thu hoạch, việc nâng cao nhận thức cho nông dân về phát triển bền vững không chỉ tăng thu nhập cho họ mà từ đó còn góp phần đẩy nhanh quá trình thực hiện các mục tiêu của một nền nông nghiệp bền vững. 

Tính đến nay, Chương trình đã tiến hành các đợt tập huấn, đào tạo cho hàng trăm nghìn nông dân trồng cà phê. Đặc biệt, Nescafé Plan đã xây dựng được mạng lưới gần 300 trưởng nhóm nông dân được trang bị bài bản về kỹ thuật, các kiến thức về kinh tế trở thành những cánh tay nối dài giúp nhân rộng các mô hình và tập quán canh tác tốt và bền vững. Ngoài ra, dự án cũng chú trọng vào các hoạt động đào tạo nông dân trẻ, thế hệ kế thừa và tiếp nối sự phát triển cho một thế hệ nông nghiệp tái sinh với thực hành canh tác mới và ứng dụng số hóa trong quản lý nông hộ. 

Bên cạnh đó, để mô hình thành công của Nescafé Plan được nhân rộng ra nhiều địa phương, khu vực khác, Nestlé cũng tích cực chia sẻ những kinh nghiệm xoay quanh chương trình tại nhiều sự kiện trong nước, quốc tế của ngành hàng và các diễn đàn về phát triển bền vững. Chương trình cũng đón chào nhiều đoàn khách trong nước và ngoài đến tham quan, học hỏi và chia sẻ kinh nghiệm tại thực địa trong suốt thời gian qua. 

Ngoài những thách thức về môi trường, xã hội, cùng những tác động ngày càng nghiêm trọng của biến đổi khí hậu lên sản xuất nông nghiệp nói chung và ngành cà phê nói riêng, những quy định pháp lý ngày càng khắt khe từ các thị trường xuất khẩu (gần đây nhất là Dự luật về giám sát chuỗi cung ứng của EU gồm các quy tắc giám sát chuỗi cung ứng kinh doanh, trong đó sẽ yêu cầu các công ty trong khối này tự quản lý chuỗi giá trị của mình để ngăn chặn vi phạm quyền con người và môi trường; hay Quy định của EU về ko gây mất rừng (EUDR) quy định cấm nhập khẩu 7 nhóm mặt hàng (cà phê, dầu cọ, gỗ, cao su, thịt bò, ca cao và đậu) vào EU nếu quá trình sản xuất các mặt hàng này gây mất rừng), Nescafé Plan với một chương trình hành động toàn diện và dài hạn đã góp phần quan trọng giúp các nông dân và đối tác trong chuỗi cung ứng cà phê có sự chuẩn bị sẵn sàng để đáp ứng với các yêu cầu về phát triển bền vững ngày càng khắt khe mà thị trường quốc tế đặt ra. Điều này cho thấy giá trị tích cực mà Chương trình mang lại khi tạo ra sự lan tỏa cho chuỗi giá trị cà phê, và xa hơn sẽ là mô hình tiêu biểu giúp các ngành sản xuất nông nghiệp khác của Việt Nam tham khảo mô hình và học hỏi kinh nghiệm. 

Đơn vị thực hiện và đối tác

Tổ chức chủ trì: Công ty TNHH Nestlé Việt Nam

Đối tác hợp tác: Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên (WASI), Koltiva (Indonesia) – phát triển nền tảng truy xuất Koltitrace, Agrinest – đánh giá thực hành nông nghiệp tái sinh, Hệ thống tổ nhóm nông dân nòng cốt khu vực Tây Nguyên, Các tổ chức chứng nhận cà phê bền vững (4C, Rainforest Alliance)

Các bên liên quan: Gần 21,000 hộ nông dân, 274 nhóm nông dân, 30% trưởng nhóm là phụ nữ, nhóm phát triển nông nghiệp Nestlé Việt Nam, chuyên gia kỹ thuật từ WASI và các tổ chức đối tác

Nguồn: Human Act Prize

Bản quyền và tính hợp pháp của các hình ảnh, video, thông tin, dữ liệu về dự án được đăng tải trên landing page (trang thông tin dự án) này do cá nhân/tổ chức đăng ký tham gia giải thưởng Human Act Prize cung cấp và chịu trách nhiệm. Nội dung tái đăng tải trên landing page (trang thông tin dự án) này đã được Công ty Cổ phần VCCorp (đơn vị phối hợp tổ chức Human Act Prize) xác nhận và cho phép.

Infographic

Nescafe Infographic (PDF, 847KB) là bản tóm tắt nghiên cứu tình huống dưới dạng trực quan.

Các tiêu chí cụ thể hỗ trợ

SDG 12.2

Quản lý bền vững tài nguyên thiên nhiên

SDG 13.3

Tăng cường giáo dục và nhận thức về biến đổi khí hậu

SDG 15.3

Phục hồi đất bị thoái hóa

SDG 8.5

Việc làm đầy đủ, năng suất và có giá trị