INSEE Vietnam – Dự án Khu bảo tồn đồng cỏ Phú Mỹ và hành trình hướng tới tác động dương lên đa dạng sinh học đến năm 2030

Dự án Khu bảo tồn Phú Mỹ – Sếu đầu đỏ của INSEE Vietnam là một sáng kiến bảo tồn đa dạng sinh học.

Dự án được hình thành nhằm giảm thiểu và bù đắp các tác động còn lại của hoạt động khai thác nguyên liệu cho sản xuất xi măng đối với sinh cảnh của sếu đầu đỏ tại khu vực Kiên Lương, nay thuộc tỉnh An Giang. Trên nền tảng hợp tác với các tổ chức chuyên môn như Quỹ Sếu quốc tế (International Crane Foundation – ICF), Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế tại Việt Nam (International Union for Conservation of Nature – IUCN), Viện Sinh thái học miền Nam (South Institute of Ecology – SIE) cùng chính quyền địa phương, INSEE từng bước xây dựng Khu bảo tồn đồng cỏ Phú Mỹ như một mô hình bù đắp đa dạng sinh học (biodiversity offset – cơ chế bù đắp phần tác động còn lại lên thiên nhiên bằng các hành động phục hồi và bảo tồn tương xứng), gắn giữa phát triển công nghiệp, phục hồi sinh cảnh, hỗ trợ sinh kế cộng đồng và quản trị dài hạn. Giai đoạn hiện nay của dự án được đặt trong khung tham vọng lớn hơn là tác động dương lên đa dạng sinh học đến năm 2030 (Net Positive Impact on Biodiversity – tạo ra giá trị tích cực cho đa dạng sinh học cao hơn mức nền đã xác định), với giá trị đa dạng sinh học được xác minh ở mức 8,33 năm 2022 và mục tiêu đạt 9,19 vào năm 2030.

Bối cảnh hình thành dự án gắn trực tiếp với lịch sử phát triển sản xuất của doanh nghiệp và những biến động lớn của hệ sinh thái vùng đất ngập nước Đồng bằng sông Cửu Long. INSEE Vietnam, trước đây là Holcim Vietnam, xây dựng nhà máy Hòn Chông từ năm 1996; quá trình khai thác nguyên liệu có ảnh hưởng đến vùng sinh sống của sếu đầu đỏ tại khu vực Kiên Lương. Trong khi đó, sếu đầu đỏ (Grus antigone) là loài biểu tượng của hệ sinh thái đồng cỏ ngập nước theo mùa, nhưng kiểu sinh cảnh này ngày càng hiếm tại Việt Nam do đất ngập nước bị chuyển đổi thành đất trồng lúa, nuôi tôm và bị lấn chiếm trái phép. Mặc dù quần thể sếu ở quy mô châu Á tương đối ổn định, số lượng tại Việt Nam lại suy giảm mạnh, chủ yếu do mất sinh cảnh.

Phú Mỹ đồng thời là một không gian nhạy cảm cả về sinh thái lẫn xã hội. Tài liệu cho thấy từ năm 2004, đây là một trong những khu vực nghèo, cư dân chủ yếu là đồng bào Khmer. Đồng thời, Phú Mỹ còn lưu giữ phần diện tích còn sót lại đáng kể của đất ngập nước Lepironia tại Đồng bằng sông Cửu Long. Lepironia không chỉ là một thành phần của hệ sinh thái tự nhiên mà còn gắn chặt với sinh kế truyền thống của người dân địa phương, khi được thu hoạch để đan chiếu, bao đựng lúa và nhiều sản phẩm thủ công khác. Trong bối cảnh chính quyền địa phương từng muốn chuyển vùng đất ngập nước này sang nuôi trồng thủy sản và đất nông nghiệp, việc bảo tồn Phú Mỹ không thể chỉ tiếp cận theo hướng bảo vệ thiên nhiên đơn thuần mà phải đồng thời giải quyết bài toán sinh kế, nhận thức cộng đồng và cơ chế quản lý lâu dài.

Một cơ sở quan trọng khác là yêu cầu phải đáp ứng các chuẩn mực quốc tế về môi trường, tín dụng và đầu tư bền vững. Dự án được thiết kế để vừa bù đắp tổn thất đa dạng sinh học liên quan đến khai thác nguyên liệu, vừa bảo vệ và phục hồi đồng cỏ kiếm ăn của sếu, hỗ trợ cộng đồng địa phương thông qua sinh kế và giáo dục, đồng thời xây dựng một mô hình bảo tồn có thể đo lường được và gắn với phát triển công nghiệp. Chính vì vậy, Khu bảo tồn đồng cỏ Phú Mỹ được thành lập năm 2016 như một sáng kiến bù đắp đa dạng sinh học để xử lý các tác động còn lại từ khai thác đất sét phục vụ sản xuất xi măng lên sinh cảnh sếu đầu đỏ ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Phát kiến nền tảng của dự án là gắn bảo tồn với cơ chế bù đắp đa dạng sinh học, thay vì chỉ dừng ở hỗ trợ môi trường đơn lẻ

Khu bảo tồn Phú Mỹ được định vị như một mô hình bù đắp đa dạng sinh học (biodiversity offset), trong đó doanh nghiệp không chỉ giảm tác động tiêu cực mà còn hướng tới việc làm cho giá trị đa dạng sinh học tăng lên so với mức nền đã được xác định. Cách tiếp cận này giúp bảo tồn trở thành một phần của chiến lược phát triển bền vững của doanh nghiệp, thay vì chỉ là một hoạt động thiện nguyện bên lề.

Dự án kết hợp bảo tồn sinh cảnh với cải thiện sinh kế cộng đồng địa phương

Từ giai đoạn khởi động năm 2004, dự án đã phát triển mô hình tạo thu nhập cho người dân thông qua các sản phẩm thủ công từ cây Lepironia, do ICF triển khai với tài trợ của Holcim. Người dân được đào tạo kỹ năng để làm các sản phẩm thủ công tinh xảo, qua đó hình thành một chuỗi giá trị kinh tế gắn trực tiếp với việc giữ gìn hệ sinh thái đất ngập nước.

Mô hình thủ công Lepironia là một sáng kiến xã hội nổi bật và có sức sống dài hạn

Dự án không chỉ dừng ở đào tạo kỹ năng mà còn phát triển thành sản xuất thực tế, với lô túi xách đầu tiên được xuất khẩu sang Nhật Bản từ tháng 11/2005. Sau 11 năm, mô hình vẫn tiếp tục phát triển với 15 lao động toàn thời gian, 2 nhân sự quản lý, 200 gia đình tham gia trong tổng số 350 hộ trong làng, và mức thu nhập hằng ngày tăng từ 10.000 đồng trước dự án lên 45.000 đồng. Mô hình này còn được ghi nhận bằng Giải thưởng Xích đạo của Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP Equator Prize – giải thưởng vinh danh các sáng kiến cộng đồng tiêu biểu về con người, thiên nhiên và sinh kế) vào năm 2012.

Dự án theo đuổi triết lý “cùng thắng” giữa con người và thiên nhiên

Một mặt, thu nhập của người dân địa phương tăng lên; mặt khác, vùng đất ngập nước được bảo vệ cho sếu đầu đỏ. Đây là điểm làm nên giá trị khác biệt của dự án: bảo tồn không được đặt đối lập với sinh kế, mà phải tạo ra động lực kinh tế – xã hội để cộng đồng có thể đồng hành lâu dài với công tác bảo tồn.

Dự án được nâng cấp từ mô hình bảo tồn địa phương thành một lộ trình tác động dương lên đa dạng sinh học đến năm 2030

Từ năm 2021, tập đoàn đặt tham vọng đạt tác động dương lên đa dạng sinh học (Net Positive Impact – tạo ra giá trị tích cực ròng cho đa dạng sinh học) vào năm 2030 và yêu cầu từng đơn vị xây dựng kế hoạch hành động cụ thể. Năm 2022, đội ngũ tại Việt Nam áp dụng khung hướng dẫn của IUCN và hệ thống chỉ số và báo cáo đa dạng sinh học (Biodiversity Indicator and Reporting System – BIRS) để xây dựng kế hoạch chi tiết; đến năm 2023, kế hoạch này được Viện Sinh thái học miền Nam kiểm tra và xác minh. Điều này cho thấy dự án không chỉ mang tính định hướng truyền thông mà đã được chuẩn hóa bằng công cụ chuyên môn và kiểm định độc lập.

Bản thân lộ trình 2030 cũng là một phát kiến về quản trị thích ứng

Sau quá trình thẩm định, các chỉ số và giả định ban đầu đã được điều chỉnh để sát thực tế hơn: giá trị nền năm 2022 được xác minh lại từ 9,28 xuống 8,33; mục tiêu năm 2030 điều chỉnh từ 10,24 xuống 9,19; diện tích khu bù đắp ở Phú Mỹ giảm từ 1.106 ha xuống 957 ha theo quyết định của cơ quan nhà nước; đồng thời loại bỏ phương án dùng sinh cảnh biển ở Ba Lua và thay bằng rừng ngập mặn do Khu rừng phòng hộ Kiên Giang quản lý để tăng tính khả thi trong giám sát và chứng minh kết quả. Dự án vì vậy cho thấy khả năng điều chỉnh theo bằng chứng khoa học thay vì giữ những giả định thuận lợi nhưng khó kiểm chứng.

Nội dung hành động của dự án rộng hơn nhiều so với việc chỉ trồng cây

Bên cạnh mục tiêu trồng khoảng 110.000 cây bản địa đến năm 2030, dự án còn bao gồm các hợp phần như phục hồi đồng cỏ và đất ngập nước, phục hồi rừng ngập mặn, loại bỏ loài xâm lấn, duy trì sinh kế cộng đồng qua hàng thủ công và vườn ươm, nâng cao năng lực quản lý cho Phú Mỹ và Kiên Lương, cũng như triển khai chiến dịch truyền thông đa dạng sinh học với đài truyền hình địa phương.

Tầm nhìn của dự án là trở thành một mô hình tiêu biểu cho việc gắn phát triển công nghiệp với bảo tồn thiên nhiên theo cách có trách nhiệm, có thể đo lường và có thể kiểm chứng độc lập. Trên bình diện chiến lược, INSEE đặt mục tiêu đạt tác động dương lên đa dạng sinh học đến năm 2030 (Net Positive Impact on Biodiversity – tạo ra giá trị tích cực cao hơn mức nền ban đầu), tức không chỉ bù đắp phần tổn thất còn lại mà còn làm cho giá trị đa dạng sinh học tăng lên theo thời gian. Việc công bố lộ trình này cũng gắn với tham vọng trở thành thương hiệu xi măng đầu tiên tại Việt Nam công bố con đường cụ thể để đạt tác động dương lên đa dạng sinh học.

Ở cấp độ thực thi, dự án theo đuổi đồng thời nhiều mục tiêu liên kết với nhau: bảo vệ và phục hồi sinh cảnh đồng cỏ ngập nước theo mùa cho sếu đầu đỏ; duy trì và phát triển sinh kế cho cộng đồng địa phương, đặc biệt là đồng bào Khmer, nhằm giảm áp lực lên khu bảo tồn; xây dựng hệ thống quản lý dài hạn gồm nghiên cứu, giám sát, đào tạo, truyền thông và phối hợp đa bên; đồng thời chứng minh rằng một doanh nghiệp công nghiệp nặng vẫn có thể tham gia nghiêm túc vào chương trình bảo tồn thiên nhiên nếu có phương pháp phù hợp, dữ liệu đầy đủ, ngân sách rõ ràng và sự đồng hành của các đối tác chuyên môn.

Quá trình triển khai - Phạm vi - Chi phí

Giai đoạn đặt nền (2004–2016)

Tháng 9/2004, dự án bảo tồn đất ngập nước Lepironia Phú Mỹ chính thức được khởi động.

Giai đoạn 2004–2009 tập trung vào khảo sát thị trường, điều tra kinh tế - xã hội, sản xuất hàng thủ công, đào tạo kỹ năng làm và bán sản phẩm Lepironia, giám sát quần thể sếu và sinh cảnh đất ngập nước, điều tiết nước, kiểm soát cỏ dại và khảo sát đa dạng sinh học.

Giai đoạn 2010–2012 tiếp tục các hoạt động giám sát, điều tiết nước, kiểm soát cỏ dại, đồng thời bổ sung kiểm soát cháy tại khu sản xuất và hỗ trợ địa phương thiết lập khu bảo tồn Phú Mỹ.

Giai đoạn 2013–2016, Khu bảo tồn Phú Mỹ được chính thức thành lập; bên cạnh đó, dự án còn triển khai các hoạt động hỗ trợ cộng đồng như xây bể chứa nước mưa và chăm sóc răng miệng hằng năm cho trường tiểu học Phú Mỹ.

Giai đoạn củng cố khoa học và mở rộng hợp tác (2019–2023)

INSEE phối hợp với IUCN để phân tích hiện trạng Khu bảo tồn Phú Mỹ, đề xuất xây dựng đê bảo vệ khu lõi, đánh giá tính khả thi của kế hoạch bù đắp với chính quyền tỉnh và các tổ chức phi chính phủ, rồi bước sang giai đoạn triển khai với các hoạt động như xây đê bảo vệ và trồng cây bản địa.

Dự án đồng thời duy trì các hoạt động thường niên cùng trường đại học như theo dõi đất, giám sát động vật hoang dã, kiểm soát loài ngoại lai xâm lấn và phục hồi đất ngập nước suy thoái.

Nhiều hoạt động đối thoại với các bên liên quan cũng được thực hiện, từ khảo sát hiện trường với trường đại học, xây dựng đề xuất bảo vệ, làm việc với chính quyền, đến các chuyến khảo sát cùng đối tác để tìm giải pháp bảo vệ khu bảo tồn.

Giai đoạn xây dựng và xác minh lộ trình đến năm 2030 (2021–2023)

Năm 2021: xác lập tham vọng đạt tác động dương lên đa dạng sinh học vào năm 2030 ở cấp tập đoàn.

Năm 2022: đội ngũ tại Việt Nam áp dụng khung hướng dẫn của IUCN và hệ thống BIRS để xây dựng kế hoạch hành động chi tiết.

Năm 2023: Viện Sinh thái học miền Nam kiểm tra và xác minh kế hoạch này.

Sau thẩm định, cấu trúc hành động được phân thành 17 khu vực sinh cảnh tại hiện trường cùng 3 dự án bù đắp, trong đó có các nhóm hoạt động phục hồi sinh cảnh, dự án bù đắp và các hạng mục phục hồi theo cam kết môi trường của mỏ.

Phạm vi hành động đến năm 2030

Trồng khoảng 110.000 cây bản địa để cải thiện điều kiện sinh cảnh.

Triển khai các hợp phần phục hồi tại Phú Mỹ, Hòn Chông và rừng ngập mặn.

Loại bỏ các loài xâm lấn như Mai Dương (Mimosa pigra) và Lục Bình (Pontederia crassipes).

Duy trì sinh kế cộng đồng thông qua hàng thủ công Lepironia và vườn ươm cây.

Nâng cao năng lực quản lý cho đội ngũ Phú Mỹ và Kiên Lương.

Duy trì truyền thông đa dạng sinh học qua website doanh nghiệp và báo chí địa phương.

Chi phí và ngân sách

Kế hoạch hành động về đa dạng sinh học ban đầu được ước tính khoảng 3,82 tỷ đồng.

Sau góp ý của SIE về việc tăng tỷ lệ cây bản địa, bổ sung phương pháp theo dõi - đánh giá và điều chỉnh một số hạng mục chưa đủ sức chứng minh hiệu quả, ngân sách tăng từ 3,8 lên 4,1 tỷ đồng, chưa bao gồm chi phí tổ chức như hành chính, vận chuyển, lưu trú và phí điều phối cho người tham gia trong và ngoài doanh nghiệp.

Triển khai trong năm 2025 và kế hoạch năm 2026

Năm 2025, doanh nghiệp hoàn thành toàn bộ kế hoạch hành động năm: hoàn tất phê duyệt cho Phú Mỹ, hoàn thiện thủ tục cho Hòn Chông, xử lý loài xâm lấn, trồng 10.000 cây, rồi tiếp tục các đợt 1.000 cây ở Phú Mỹ, Hang Tien và khu vực nhà máy Hòn Chông; đồng thời tổ chức đào tạo cho đội ngũ quản lý khu bảo tồn, cập nhật website, hoàn thiện báo cáo bền vững, duy trì hoạt động truyền thông và đối thoại với các bên liên quan. Một hạng mục được chuyển sang năm sau do chưa hoàn tất đàm phán về vùng an toàn nổ mìn.

Năm 2026, kế hoạch tiếp tục nhấn mạnh trồng lại và tăng cường phục hồi với các đợt 10.000 cây trồng lại, 8.300 cây, rồi các đợt 3.000 cây ở Phú Mỹ và Hòn Chông, song song với việc duy trì xử lý loài xâm lấn, mua sản phẩm thủ công địa phương nhân Ngày Môi trường, cập nhật chiến dịch truyền thông và tiếp tục phối hợp với chính quyền và cơ quan truyền thông địa phương.

Kết quả về thể chế và mô hình bảo tồn

Khu bảo tồn đồng cỏ Phú Mỹ được hình thành như một mô hình bù đắp đa dạng sinh học chính thức từ năm 2016.

Dự án cho thấy mở rộng công nghiệp xi măng có thể được gắn với bảo tồn thiên nhiên thông qua một mô hình có độ tin cậy và khả năng nhân rộng.

Lộ trình đến năm 2030 đã được xây dựng, rà soát và xác minh bởi đơn vị chuyên môn độc lập.

Kết quả về sinh kế cộng đồng

Mô hình thủ công Lepironia giúp người dân địa phương có thêm việc làm và thu nhập ổn định hơn.

Sản phẩm đã được xuất khẩu sang Nhật Bản từ năm 2005.

Sau 11 năm, mô hình vẫn duy trì với 15 lao động toàn thời gian, 2 nhân sự quản lý, 200 gia đình tham gia và mức thu nhập tăng hơn 4 lần so với trước dự án.

Dự án được trao Giải thưởng Xích đạo của Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc năm 2012, khẳng định đây là một sáng kiến vừa có chiều sâu cộng đồng vừa có giá trị bảo tồn rõ rệt.

Kết quả về phục hồi sinh cảnh và trồng cây

INSEE đã bàn giao 37.000 cây bản địa cho Phú Mỹ trong giai đoạn 2023–2024.

Trong 2 tuần đầu tháng 8/2025, dự án trồng 10.000 cây Melaleuca tại Khu bảo tồn Phú Mỹ và huy động cả khách hàng Ecocycle cùng tham gia, qua đó vừa phục hồi sinh cảnh vừa tăng cường sự gắn kết của các bên liên quan. 

Trong tuần đầu tháng 10, dự án trồng 1.000 cây Avicenia tại khu vực rừng ngập mặn Hang Tien ở hai địa điểm khác nhau.

Tháng 12/2025, kế hoạch tiếp tục trồng 1.000 cây Melaleuca cajuputi tại khu đất trống HC14 của nhà máy Hòn Chông.

Kết quả về kiểm soát áp lực sinh thái

Khu đất trong phạm vi bảo tồn từng bị lấn chiếm trái phép năm 2021, nhưng đã được giải tỏa vào năm 2023.

Các hoạt động xử lý loài xâm lấn được xác định rõ, tập trung vào Mai Dương và Lục Bình trong năm 2025.

Việc làm kênh bảo vệ vùng lõi, giải tỏa khu bị lấn chiếm, loại bỏ loài xâm lấn và phục hồi sinh cảnh đã tạo nền tảng quan trọng cho việc khôi phục nơi ở và nơi kiếm ăn của sếu đầu đỏ.

Kết quả về quần thể sếu đầu đỏ

Dữ liệu đếm sếu tại Phú Mỹ cho thấy giai đoạn 2008–2016, số lượng từng ở mức cao, nhiều năm trên 100 cá thể và có thời điểm đạt 225, 238 và 220 con.

Sau đó, quần thể giảm mạnh do mất sinh cảnh bởi nuôi tôm, trồng lúa trong và ngoài khu bảo tồn, xuống còn 65 con năm 2017, 30 con năm 2019, 17 con năm 2022 và 0 con năm 2023.

Sau các biện pháp bảo vệ và phục hồi, sếu bắt đầu quay trở lại với 9 con năm 2024 và 23 con năm 2025; riêng tháng 3/2025 ghi nhận sự trở lại của hơn 23 cá thể sếu đầu đỏ, được xem là tín hiệu rất tích cực sau một thời gian dài suy giảm.

Kết quả về năng lực quản lý và phối hợp đa bên

Đội ngũ quản lý và nhân viên PMNR được tham gia khóa đào tạo 2 ngày về quản lý đa dạng sinh học vùng đất ngập nước do giảng viên Đại học Cần Thơ hướng dẫn, bao gồm giá trị sinh thái của đất ngập nước, phương pháp bảo vệ, theo dõi sinh thái, phục hồi sinh cảnh, hợp tác cộng đồng và thực hành hiện trường.

Dự án cũng xây dựng được mạng lưới làm việc với chính quyền, tổ chức phi chính phủ, trường đại học, chuyên gia và truyền thông thông qua khảo sát thực địa, nghiên cứu, hội thảo và tham vấn giải pháp bảo vệ khu bảo tồn.

Kết quả về truyền thông và minh bạch

Các hoạt động đa dạng sinh học tại Kiên Giang được cập nhật thường xuyên trên website doanh nghiệp và lan tỏa qua báo chí.

Nội dung truyền thông bao phủ các chủ đề như trồng cây Melaleuca, sự trở lại của sếu, xử lý loài xâm lấn, hợp tác với đài truyền hình Kiên Giang, tiếp tục phục hồi sinh cảnh và ký kết mới với IUCN.

Điều này giúp dự án không chỉ tạo tác động tại hiện trường mà còn tạo được hồ sơ minh bạch, khả năng chia sẻ và uy tín công chúng cho nỗ lực bảo tồn.

Mô hình có thể nhân rộng vì giải quyết đồng thời bài toán sinh thái và sinh kế

Đây là điểm mạnh nổi bật nhất của dự án. Thay vì bảo tồn theo cách tách biệt khỏi cộng đồng, mô hình Phú Mỹ chứng minh rằng khi người dân có sinh kế tốt hơn từ các hoạt động bền vững như thủ công Lepironia, áp lực lên tài nguyên thiên nhiên có thể giảm xuống. Cách tiếp cận này đặc biệt phù hợp với nhiều khu sinh cảnh nhạy cảm khác ở Việt Nam, nơi bảo tồn chỉ bền vững khi gắn với lợi ích của cộng đồng cư trú xung quanh.

Mô hình có nền tảng kỹ thuật để mở rộng sang các doanh nghiệp khác

Việc áp dụng khung hướng dẫn của IUCN, hệ thống chỉ số và báo cáo đa dạng sinh học, có xác minh của SIE, phân tầng các nhóm hành động theo phục hồi sinh cảnh, bù đắp và phục hồi mỏ, đồng thời thiết lập các mốc kiểm tra giữa kỳ năm 2027 và đánh giá năm 2030, khiến mô hình này đủ chặt chẽ để trở thành tham chiếu cho các doanh nghiệp công nghiệp nặng khác, chứ không chỉ là một dự án trách nhiệm xã hội mang tính truyền cảm hứng.

Mô hình có tính thích ứng cao

Dự án đã cho thấy khả năng hiệu chỉnh khi các giả định ban đầu chưa đủ khả thi: thay đổi giá trị nền, điều chỉnh diện tích bù đắp, thay thế sinh cảnh biển khó theo dõi bằng rừng ngập mặn dễ quản trị hơn, tăng tỷ lệ cây bản địa và bổ sung phương pháp theo dõi - đánh giá. Chính khả năng thích ứng này làm tăng cơ hội nhân rộng, vì mô hình không cứng nhắc mà có thể điều chỉnh theo điều kiện địa phương và kết quả đánh giá độc lập

Mô hình có khả năng nhân rộng về mặt danh mục hành động

Dự án không chỉ gồm trồng cây, mà còn kết hợp phục hồi vùng đất ngập nước, bảo vệ vùng lõi, xử lý loài xâm lấn, trồng rừng ngập mặn, đào tạo quản lý, làm việc với chính quyền, huy động khách hàng, mua hàng thủ công địa phương và truyền thông công khai. Danh mục này cho phép các địa phương hoặc doanh nghiệp khác lựa chọn tổ hợp hành động phù hợp với điều kiện sinh thái và nguồn lực của mình

Mô hình có giá trị biểu tượng và có bằng chứng thực tế thuyết phục

Việc sếu đầu đỏ quay lại Phú Mỹ sau một giai đoạn suy giảm sâu là một bằng chứng mạnh mẽ về khả năng hồi phục sinh cảnh khi các biện pháp quản lý được thực hiện đủ nghiêm túc. Cộng với các kết quả kinh tế - xã hội từ mô hình sinh kế Lepironia, dự án sở hữu cả “câu chuyện” và “dữ liệu”, đủ sức trở thành một hình mẫu đáng tham khảo trong các chương trình phát triển bền vững tại Việt Nam

Đơn vị thực hiện và đối tác

Tên đơn vị chính: INSEE Vietnam

Các đối tác hợp tác chính: Quỹ Sếu quốc tế (International Crane Foundation – ICF); Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế tại Việt Nam (IUCN); Viện Sinh thái học miền Nam (SIE); Chính quyền địa phương tại khu vực Phú Mỹ – Kiên Lương; Cộng đồng địa phương, đặc biệt là đồng bào Khmer; Các trường đại học và chuyên gia sinh thái liên quan

Các bên liên quan và nhóm hưởng lợi chính: Cộng đồng địa phương sống quanh Khu bảo tồn đồng cỏ Phú Mỹ; Người dân tham gia sinh kế từ cây Lepironia; Đội ngũ quản lý khu bảo tồn và chính quyền địa phương; Hệ sinh thái đất ngập nước, đồng cỏ Phú Mỹ và rừng ngập mặn; Các loài động, thực vật bản địa, đặc biệt là sếu đầu đỏ; Doanh nghiệp công nghiệp có nhu cầu áp dụng mô hình bù đắp đa dạng sinh học

Nguồn: INSEE

Bản quyền và tính hợp pháp của các hình ảnh, video, thông tin, dữ liệu về dự án được đăng tải trên landing page (trang thông tin dự án) này do cá nhân/tổ chức tham gia hợp tác với Đại học Quốc tế RMIT Việt Nam cung cấp và chịu trách nhiệm.

Các tiêu chí cụ thể hỗ trợ

SDG 12.2

Quản lý bền vững và sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên

SDG 12.6

Khuyến khích doanh nghiệp áp dụng thực hành bền vững và báo cáo bền vững

SDG 15.1

Bảo tồn, phục hồi và sử dụng bền vững hệ sinh thái trên cạn và đất ngập nước

SDG 15.2

Giảm suy thoái môi trường sống tự nhiên, ngăn chặn mất đa dạng sinh học và bảo vệ các loài bị đe dọa

SDG 15.8

Ngăn chặn và kiểm soát các loài ngoại lai xâm hại

SDG 17.16

Tăng cường quan hệ đối tác đa bên nhằm hỗ trợ đạt được các mục tiêu phát triển bền vững

SDG 17.17

Khuyến khích và thúc đẩy các quan hệ đối tác hiệu quả giữa khu vực công, công tư và xã hội dân sự