Tại Việt Nam và khu vực Đông Nam Á, nhiều phụ nữ vẫn gặp hạn chế về khả năng tiếp cận công nghệ số và kỹ năng số, khiến họ càng thiếu tự tin khi sử dụng AI.
Phó giáo sư Catherine Earl cho rằng một phần của vấn đề nằm ở cách xã hội nhìn nhận AI. Thay vì coi AI là lĩnh vực dành riêng cho những người “giỏi công nghệ”, xã hội nên xem đây là kỹ năng cơ bản mà ai cũng cần có.
“Trong quá khứ, khả năng đọc viết hay thư pháp từng là kỹ năng chỉ dành cho một nhóm nhỏ tầng lớp tinh hoa ở Việt Nam và thường không có phụ nữ. Nhưng ngày nay, phụ nữ có trình độ đọc viết ngang bằng nam giới và đây đã trở thành kỹ năng cơ bản. Tương tự, việc sử dụng AI cũng nên được xem là một kỹ năng cơ bản, chứ không phải điều gì ‘mới mẻ’ hay ‘đặc biệt’ mà chỉ một số người mới làm được”, bà nói.
Thu hẹp khoảng cách giới trong kỷ nguyên AI
Phó giáo sư Earl cho rằng nếu trường học và nơi làm việc xem việc sử dụng AI như một kỹ năng bắt buộc cần phổ cập, thì trẻ em gái và trai, phụ nữ và đàn ông đều sẽ tự tin dùng AI trong cuộc sống hằng ngày.
“Thu hẹp khoảng cách phổ cập AI giữa nam và nữ vào thời điểm này nên được xem là nhiệm vụ giáo dục cơ bản. Các lớp học và chương trình phổ cập AI dành cho phụ nữ có thể được triển khai tương tự cách mà trước đây các lớp xóa mù chữ đã giúp cải thiện và cân bằng trình độ đọc viết giữa các giới”, bà nói.
Tại nơi làm việc, bà cho rằng doanh nghiệp Việt Nam có thể đi đầu trong việc xây dựng chính sách và thực hành thúc đẩy sự hòa nhập AI đối với nhân viên và lãnh đạo nữ. “Việc tài trợ cho nhân viên nữ phát triển sự nghiệp dựa trên kỹ năng AI cơ bản sẽ góp phần tạo sân chơi bình đẳng và giảm nguy cơ phân biệt đối xử về giới tại nơi làm việc”, bà nói.
Trong khi đó, Tiến sĩ Thủy nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đẩy mạnh sự tham gia của phụ nữ trong lĩnh vực nghiên cứu và phát triển AI. Giải pháp bao gồm cung cấp chương trình học bổng, cố vấn nghề nghiệp và lộ trình phát triển lãnh đạo nhằm khuyến khích nhiều phụ nữ trẻ bước vào ngành và tiến xa hơn trong sự nghiệp.
Bà cho biết doanh nghiệp có thể giảm thiểu thiên lệch giới do AI bằng cách lồng ghép tư duy bao trùm vào toàn bộ quy trình phát triển – từ việc tuyển dụng và đề bạt nhiều phụ nữ hơn, sử dụng dữ liệu huấn luyện đa dạng, đến thực hiện đánh giá thiên lệch định kỳ trước và sau khi triển khai hệ thống AI.
Chẳng hạn trong tuyển dụng, doanh nghiệp cần chủ động kiểm tra xem AI có đang đối xử bất công với nhóm ứng viên hoặc vai trò cụ thể nào hay không. “AI có trách nhiệm (responsible AI) có thể loại bỏ thiên kiến trong tuyển dụng hoặc thăng tiến bằng cách tập trung hoàn toàn vào kỹ năng và tiềm năng, thay vì tên tuổi, hình ảnh hay những quãng nghỉ trong sự nghiệp ứng viên”, bà nói.
Là một giảng viên AI, Tiến sĩ Thủy tin rằng tiềm năng tích cực của công nghệ này là rất lớn bởi có thể mở rộng AI nhanh chóng với chi phí thấp.
“Một hệ thống AI với thiết kế bao trùm có thể giúp hàng triệu phụ nữ tiếp cận cơ hội tốt hơn, môi trường an toàn và các quyết định công bằng hơn. Cần nhớ rằng, tính bình đẳng trong AI không tự động có mà cần được thiết kế, xây dựng và trau dồi”.
Bài: Hoàng Minh Ngọc