Liệu điện ảnh Việt có thể chinh phục khán giả toàn cầu?

Liệu điện ảnh Việt có thể chinh phục khán giả toàn cầu?

Chưa bao giờ điện ảnh Việt lại sôi động như hiện nay, nhưng điều gì tạo sự khác biệt giữa những tác phẩm có thể chinh phục khán giả quốc tế và những bộ phim chỉ tạo được tiếng vang trong nước? Theo hai giảng viên ngành Sản xuất phim kỹ thuật số RMIT Việt Nam, câu trả lời có thể nằm ở “tone” – lực đẩy vô hình định hình cách khán giả kết nối với câu chuyện.

Ngành điện ảnh Việt Nam đã gặt hái được nhiều thành công trong những năm gần đây, với các bộ phim lập kỷ lục phòng vé trong nước và được ghi nhận tại các liên hoan phim quốc tế lớn. Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Trọng Khoa, Chủ nhiệm bộ môn, và ông Đoàn Tuấn Đức, giảng viên, ngành Sản xuất phim kỹ thuật số, thành công trên trường quốc tế không chỉ được quyết định bởi cốt truyện hấp dẫn và chất lượng sản xuất, mà còn ở tính nhất quán của hành trình tự sự, cũng như khả năng khiến khán giả đồng cảm với thế giới trong phim và tin vào logic vận hành của thế giới đó. 

Alt Text is not present for this image, Taking dc:title 'film-tone-duc-doan-khoa-nguyen'[Trái sang phải] ông Đoàn Tuấn Đức, giảng viên, và ông Nguyễn Trọng Khoa, Chủ nhiệm bộ môn, ngành Sản xuất phim kỹ thuật số, Đại học RMIT Việt Nam

Vì sao tone là ngôn ngữ chung của khán giả toàn cầu?

Tone thường bị nhầm lẫn với thể loại, cảm xúc hay phong cách, nhưng theo hai giảng viên RMIT, đây là những khái niệm phục vụ các mục đích khác nhau. Tone là sắc thái cảm xúc và quan điểm tổng thể của cả bộ phim, có thể là trầm lắng, mỉa mai, tràn trề hy vọng hay đè nén cảm xúc. Trong khi đó, cảm xúc (mood) là những sắc thái xúc cảm mà bộ phim gợi lên ở người xem trong từng phân cảnh cụ thể, còn thể loại (genre) dùng để phân loại phim thành chính kịch, hài, hành động hay kinh dị. Phong cách thể hiện (style) liên quan đến các kỹ thuật làm phim như quay, dựng, ánh sáng và âm thanh.

Ông Đức phân tích: “Dù khán giả có thể không hiểu về những nét văn hóa, trải nghiệm lịch sử hay bối cảnh xã hội được thể hiện trên màn ảnh, họ thường vẫn có thể nhận ra sắc thái cảm xúc mà bộ phim muốn truyền tải. Một cấu trúc tone nhất quán có thể giúp những câu chuyện mang đậm chất địa phương trở nên dễ thấu hiểu hơn với khán giả quốc tế, mà vẫn giữ được nét đặc trưng riêng".

Chính khả năng truyền tải cảm xúc vượt qua rào cản văn hóa lý giải tại sao tone trở thành yếu tố quan trọng đối với những bộ phim muốn vươn ra màn ảnh toàn cầu. Dù khán giả có thể không hiểu hết từng tham chiếu văn hóa trong một bộ phim, theo bản năng, họ vẫn có thể cảm nhận được liệu câu chuyện đang mời gọi họ bật cười, rơi lệ, suy ngẫm, hồi hộp hay tiếc thương.

Vấn đề có thể nảy sinh khi một bộ phim liên tục chuyển đổi sắc thái cảm xúc mà không có dụng ý rõ ràng. Ông Khoa muốn đề cập đến hiện tượng “nhảy tone” khiến khán giả không biết nên cảm nhận hay phản ứng với câu chuyện theo hướng nào.

“Việt nhảy tone có thể mang lại hiệu quả nếu xuất phát từ dụng ý cấu trúc phim, song có thể phản tác dụng khi các cảnh phim tạo cảm giác như được ghép từ những tác phẩm khác nhau, hoặc khiến khán giả không biết nên đón nhận nhịp truyện theo hướng nào”, ông nhận định.

Điều đó không có nghĩa những bộ phim thành công trên trường quốc tế chỉ duy trì một sắc thái cảm xúc duy nhất từ đầu đến cuối. Một số tác phẩm được đánh giá cao trên thế giới vẫn chuyển đổi mượt mà giữa các thể loại và trạng thái cảm xúc khác nhau, đồng thời duy trì được sự nhất quán về mặt cảm xúc. Trong phim Ký sinh trùng (Parasite), sự chuyển đổi từ hài hước sang bi kịch dần hé lộ thực tế khắc nghiệt đối với những người thuộc tầng lớp thấp khi nỗ lực leo lên các nấc thang xã hội. Còn trong phim Trốn thoát (Get Out), bước chuyển từ hài hước sang rùng rợn từ từ phơi bày thực tại đen tối đằng sau vẻ lịch thiệp và hình ảnh thân thiện của tầng lớp thượng lưu da trắng. Ở cả hai phim, những thay đổi về tone phim đều phục vụ dụng ý nghệ thuật rõ ràng: khi các nhân vật nhận ra thực tại ẩn sau ảo tưởng ban đầu, sự chuyển dịch về tone khéo léo dẫn dắt cảm xúc của khán giả theo sự thay đổi trong nhận thức của nhân vật, đồng thời nêu bật thông điệp châm biếm xã hội mà đạo diễn muốn truyền tải.

“Những bộ phim duy trì được sự nhất quán về tone giúp khán giả dễ dàng đắm chìm vào thế giới được khắc họa trên màn ảnh và tiếp tục tạm gác lại sự hoài nghi”, ông Khoa nói. “Ngay cả khi chuyển đổi thể loại, bộ phim vẫn giữ được logic cảm xúc xuyên suốt”.

Nguyên tắc này cũng có thể thấy ở những tác phẩm quốc tế được giới phê bình đánh giá cao như Tâm trạng khi yêu (In the mood for love) của đạo diễn Vương Gia Vệ, duy trì được cảm giác khắc khoải và kìm nén xuyên suốt mạch phim, hay Một cuộc ly thân (A Seperation) của đạo diễn Asghar Farhadi, bộ phim khéo léo cân bằng giữa chủ nghĩa hiện thực đời thường với những giằng xé về mặt đạo đức.

Liệu điện ảnh Việt có thể kể những câu chuyện chạm đến trái tim khán giả quốc tế?

Hai chuyên gia cho rằng Việt Nam đã có những dự án phim cho thấy sức mạnh của việc kiểm soát tone một cách hiệu quả. 

Alt Text is not present for this image, Taking dc:title 'film-tone-2'Tone tạo nên sợi dây kết nối cảm xúc khán giả và thế giới trong phim. (Hình: Pexels)

Bộ phim Mai của đạo diễn Trấn Thành không chỉ là một trong những tác phẩm ăn khách nhất trong nước mà còn phát hành được ở thị trường quốc tế. Những chuyển đổi về tone cùng các chi tiết gợi nhắc đến những bộ phim nổi tiếng đều được tiết chế cẩn trọng, giúp tác phẩm tiếp cận đông đảo khán giả mà vẫn tập trung thể hiện hành trình cảm xúc của nhân vật chính. Theo ông Khoa, thành công của bộ phim cho thấy những câu chuyện xuất phát từ trải nghiệm lấy bối cảnh Việt Nam vẫn có thể chạm đến khán giả ngoài nước khi các yếu tố cảm xúc và tone được xây dựng nhất quán, tạo sự đồng cảm về mặt văn hóa và nằm trong ngưỡng người xem có thể chấp nhận được, đồng thời được lồng ghép cẩn trọng vào thế giới trong phim.

Một ví dụ tiêu biểu là các tác phẩm của đạo diễn Mỹ gốc Việt Leon Lê. Cả hai bộ phim Song LangQuán Kỳ Nam đều duy trì sắc thái cảm xúc tiết chế thông qua lối diễn xuất chừng mực, nhịp kể chuyện chậm rãi và tái hiện bối cảnh phim đến từng chi tiết. Tương tự, Bên trong vỏ kén vàng của đạo diễn Phạm Thiên Ân, tác phẩm giành giải Caméra d'Or tại Cannes 2023, cũng theo đuổi tone giàu tính chiêm nghiệm thông qua những cú máy dài, nhịp điệu tĩnh lặng và gắn kết sâu sắc với cảnh quan thiên nhiên.

Ông Đức nhận định: “Việc bộ phim được vinh danh tại Cannes cho thấy việc duy trì tone nhất quán xuyên suốt có thể góp phần đưa một tác phẩm đậm chất Việt đến với khán giả quốc tế và được ghi nhận về mặt nghệ thuật”.

Tuy nhiên, ông Khoa nhấn mạnh rằng một bộ phim ăn khách không nhất thiết phụ thuộc vào việc giữ tone nhất quán. Ông lấy Mưa đỏ làm ví dụ về một tác phẩm thành công về mặt thương mại, dù những thay đổi đột ngột trong tone phim có thể ảnh hưởng đến cách một bộ phận khán giả cảm nhận câu chuyện.

Ông nhận xét: “Gần cuối phim, tác phẩm đột ngột chuyển từ việc khắc họa cuộc chiến Bắc-Nam cực kỳ chân thực sang những màn đối kháng tay đôi đậm chất phim hành động võ thuật của Jean-Claude Van Damme, trước khi khép lại bằng một cái kết đầy chất bi kịch. Sự chuyển tone đột ngột này khiến tôi không còn hoàn toàn tin vào thế giới mà bộ phim đã thiết lập. Phần hành động lệch khỏi sắc thái lịch sử và chính kịch được xây dựng đầu phim, nghiêng hơn về phô diễn trước khi tạo bước chuyển đầy tham vọng và giàu ý nghĩa sang ngôn ngữ biểu tượng và làm sáng tỏ chủ đề cốt lõi của phim”.

Dẫu vậy, ông Khoa cho rằng việc bộ phim đoạt doanh thu cao cho thấy phản ứng của khán giả thường còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác chứ không chỉ tính nhất quán về tone.

Duy trì một tone nhất quán là một trong những thách thức lớn nhất đối với các nhà làm phim. Kỳ vọng của nhà đầu tư, yêu cầu kiểm duyệt, những hạn chế trong quá trình sản xuất và áp lực doanh thu thường khiến họ phải pha trộn nhiều thể loại và bổ sung các yếu tố đáp ứng thị hiếu khán giả, ngay cả khi họ biết rõ việc làm đó sẽ làm giảm tính thống nhất của tác phẩm. Tại Việt Nam, do sức ảnh hưởng mạnh mẽ của những lời truyền miệng, các nhà sản xuất và biên kịch chủ động tạo ra những sắc thái tone khác nhau để dự án phim tiếp cận đến đông đảo người xem hơn. Ông Khoa cho rằng làm như vậy sẽ gây khó cho ê kíp khi những yếu tố câu khách được đưa vào phim để chiều lòng khán giả thay vì góp phần củng cố định hướng cảm xúc và chủ đề mà bộ phim theo đuổi.

Để tránh tình trạng đó, cả hai giảng viên đều khuyến nghị các nhà làm phim xây dựng định hướng tone rõ ràng ngay từ giai đoạn đầu phát triển dự án và  đảm bảo tất cả quyết định trong quá trình sản xuất và hậu kỳ đều dựa trên định hướng này. Từ diễn xuất, ngôn ngữ hình ảnh, âm nhạc, thiết kế mỹ thuật đến dựng phim, mọi yếu tố đều cần hướng tới cùng một định hướng cảm xúc xuyên suốt.

Hướng tới tương lai, ông Đức cho rằng việc kiểm soát tone tốt hơn có thể giúp điện ảnh Việt tạo dựng bản sắc rõ nét trên màn ảnh toàn cầu.

“Để làm một bộ phim có sức hấp dẫn với khán giả quốc tế cần xây dựng tone một cách có chủ đích. Các yếu tố lãng mạn, hài hước, bạo lực hay tâm linh có thể đan xen và chuyển hóa trong cùng một tác phẩm, miễn là chúng phục vụ cho ý đồ rõ ràng, chẳng hạn như mở ra một góc nhìn mới hay làm nổi rõ hơn chủ đề mà phim muốn truyền tải. Khi đó, những chuyển dịch về tone có thể giúp khán giả đồng hành sâu sắc hơn với câu chuyện, thay vì chỉ nhằm tạo ra những hiệu ứng cảm xúc khác nhau để thu hút người xem”, ông nói.

Bài: Hoàng Hà

Hình đại diện: Tima Miroshnichenko – pexels.com | Hình đầu trang: Gorodenkoff – stock.adobe.com

Tin tức liên quan