Theo ông, đây là cách để những người làm công việc sáng tạo giữ được tác quyền trong thời đại mà phong cách dễ dàng bị giao phó cho thuật toán. “Thay vì để AI quyết định tác phẩm của bạn trông thế nào, hãy truyền cho nó góc nhìn của bạn. Hãy dùng AI như một cách để suy ngẫm, không phải để thiết kế rập khuôn”, ông Berg chia sẻ.
Còn ông Arce thì cảnh báo rằng việc phụ thuộc quá mức vào AI có thể khiến chiều sâu biểu tượng và bản sắc văn hóa trong kể chuyện bằng thị giác sẽ bị phai nhạt. “Quá trình sáng tạo không chỉ về tốc độ hay phong cách”, ông nói. “Đó là việc tìm kiếm ý nghĩa và ý nghĩa thì cần thời gian”.
Với giới sáng tạo Việt Nam, đây là một cơ hội quý giá. Thay vì mặc định chạy theo các xu hướng hình ảnh toàn cầu, họ có thể định hình công cụ để phản ánh di sản phong phú của chính mình – từ chất liệu truyền thống, biểu tượng văn hóa địa phương đến lối kể chuyện gắn kết chặt chẽ với nguồn cội. Khi đó, AI trở thành phương tiện mở rộng văn hóa thay vì bắt chước.
Trong giảng dạy, cả ông Arce và Berg đều nhấn mạnh rằng giáo dục bậc cao phải vượt khỏi việc dạy kỹ năng. Phải khuyến khích sinh viên phát triển tư duy độc lập, đặt ra những câu hỏi hay và có chiều sâu hơn để chất vấn không chỉ về cách dùng các công cụ này, mà còn về lý do tại sao sử dụng chúng. Điều gì khiến bạn chọn dùng AI để tạo ra một hình ảnh? Dữ liệu để cho ra kết quả xuất phát từ đâu? Thành phẩm có thực sự thể hiện được chất riêng của bạn không, hay chỉ là những gì thuật toán nhào nặn ra từ những gì nó học được từ đám đông? Và có lẽ quan trọng nhất, chúng ta sẽ đánh mất gì khi ngừng sáng tạo từ đôi tay, từ ký ức và từ lựa chọn của chúng ta và cả những khoảnh khắc chuyển tiếp trong quá trình sáng tạo?
Đây không phải những lo ngại trừu tượng. Trong nhiều trường hợp, người dùng tải ảnh cá nhân lên các ứng dụng hỗ trợ AI mà chẳng mảy may để ý đến những điều khoản đi kèm. Khuôn mặt, địa điểm và thẩm mỹ cá nhân đều âm thầm bị chuyển đến kho dữ liệu huấn luyện AI. Trong một thế giới vận hành bởi những câu lệnh miễn phí và bộ lọc có độ lan truyền lớn, người dùng không còn là khách hàng mà đang trở thành nguyên liệu thô để huấn luyện hệ thống.
Một công cụ, không phải một khuôn mẫu
Văn hoá thị giác hiện nay là một không gian kết hợp, được hình thành từ sự tương tác không ngừng giữa con người và công nghệ. Từ máy ảnh, phần mềm chỉnh sửa ảnh, cho đến công nghệ ghi chuyển động và kỹ xảo điện ảnh, công nghệ luôn là một phần của quy trình sáng tạo. AI chỉ đơn giản là chương tiếp theo nhưng là một chương cần người dùng phải có chủ đích hơn.
Thế hệ nghệ sĩ tương lai phải vừa sử dụng thành thạo công cụ, vừa phải biết khi nào nên để chúng sang một bên. Thách thức với những nhà sáng tạo trẻ tại Việt Nam không phải là có nên dùng AI hay không, mà là dùng công nghệ này thế nào để tầm nhìn của bản thân họ không bị AI làm cho biến dạng.
Vì khi mọi tác phẩm bắt đầu tương tự như nhau, có lẽ hành động sáng tạo táo bạo nhất chính là từ chối dùng bản mẫu. AI đã trở thành một phần của hệ sinh thái sáng tạo, như máy ảnh, phần mềm và internet từng là vậy. Nhưng ngày nay, chúng không còn đơn thuần là công nghệ, mà chính là văn hoá.
“Có sự khác biệt giữa nhập một câu lệnh và sáng tạo”, ông Berg nhắc nhở. Nói cách khác, không chỉ là ra lệnh cho máy móc mà là truyền vào đó một thông điệp có ý nghĩa.
Để bảo vệ tính phong phú của sáng tạo, điều quan trọng là phải cưỡng lại sự tiện lợi của những hình ảnh sản xuất hàng loạt. Điều đó không có nghĩa là phủ nhận AI hoàn toàn, mà học cách sử dụng công nghệ này một cách tỉnh táo, có chủ đích và theo cách tôn trọng cách cảm nhận riêng của từng cá thể.
Bởi vì tương lai của văn hoá thị giác không nằm trong tay máy móc, mà thuộc về những người biết định hướng để công nghệ nhìn và cảm nhận thế giới bằng lăng kính sáng tạo.
Bài: Quân Đinh H.